Danh mục: Blog

  • Các phương pháp xử lý nước thải hiện nay

    Ô nhiễm nước thải do sinh hoạt, công nghiệp có xu hướng gia tăng, đặc biệt là những khu vực có số lượng dân cư sinh sống đông đúc, không những ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân sống xung quanh mà còn ẩn chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm tới sức khỏe con người.

    Vấn đề ô nhiễm nước thải do sinh hoạt, công nghiệp có xu hướng gia tăng, đặc biệt là những khu vực có số lượng dân cư sinh sống đông đúc. Ô nhiễm nước thải không những ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của người dân sống xung quanh mà còn ẩn chứa nhiều mầm bệnh nguy hiểm tới sức khỏe con người.

    Các phương pháp phổ biến trong xử lý nước thải

    Tùy thuộc vào tính chất của các loại nước thải (nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp hoặc hỗn hợp nước thải công nghiệp và sinh hoạt), các phương pháp xử lý sau đây thường được áp dụng:

    • Phương pháp vật lý: chắn bằng lưới lọc các vật liệu thô trôi nổi trong nước  thải; khuấy trộn; keo tụ/ bông tụ, tuyển nổi, lắng, lọc…

    • Phương pháp hóa học: kết tủa; hấp phụ, hấp thụ; oxy hóa khử và khử trùng.

    • Phương pháp sinh học: quá trình hiếu khí; quá trình kỵ khí.

    • Phương pháp xử lý bậc cao  bao gồm phương pháp vật lý và hóa học như quá trình khử nitơ và phốt pho trong nước thải (xử lý bậc ba), là sự kết hợp của cả ba quá trình: vật lý, hóa học và sinh học, trong đó chủ yếu là quá trình sinh học (đối với quá trình nitrat  hóa  và  khử nitrat). Để khử phốt pho, trước hết sử dụng quá trình  sinh học để chuyển đổi phốt pho hữu cơ thành các ortho phốt phát bằng chu trình kỵ khí/hiếu khí, sau đó, phốt pho dưới dang ortho phốt phát được kết tủa bằng các tác nhân hóa học.

    – Trong thực tế, một nhà máy xử lý nước thải thường có thể kết hợp cả ba phương pháp: vật lý, hóa học và sinh học hoặc sử dụng từng phương pháp riêng rẽ. Ví dụ, khi xử lý nước thải sinh hoạt chỉ chứa chất thải dễ phân hủy bằng vi sinh vật, thường kết hợp phương pháp vật lý  (lưới chắn rác, khuấy trộn, lắng…), phương pháp sinh học (hiếu khí hoặc kỵ khí hoặc cả hai) và phương pháp hóa học (khử trùng). Nhiều loại nước thải có thành phần phức tạp (chứa kim loại nặng, hàm lượng COD cao) như nước thải dệt nhuộm, nước thải thuộc da, xi mạ,… cần phải kết hợp cả ba phương pháp với tất cả các kỹ thuật mới đạt hiệu quả xử lý.

    Tùy vào tính chất của nước thải mà kết hợp một cách tốt nhất các phương pháp xử lý.

  • Xử lý ô nhiễm nước bằng vi sinh vật (phần 1)

    Là nước thải từ các khu tập trung dân cư. Nước thải này được sinh ra từ sinh hoạt như ăn uống, tắm giặt cũng như phân, nước tiểu con người hàng ngày thải ra được xả vào hệ thống cống rãnh của thành phố.

    Trong nước thải loại này có chứa nhiều phân, rác, các hợp chất hữu cơ và muối hoà tan, đặc biệt là chứa nhiều loại vi sinh vật gây bệnh , các loại trứng giun, sán …

    Đây là loại nước thải phổ biến và có số lượng nhiều nhất. Mức độ ô nhiễm của loại nước thải này phụ thuộc vào nếp sống văn minh, trình độ dân trí của từng đô thị, của từng quốc gia.

    Là loại nước thải của một nhà máy hay khu công nghiệp tập trung với các loại hình sản xuất khác nhau :

    – Các nhà máy chế biến thực phẩm như đường, rượu bia, đồ hộp, sữa, giết mổ gia súc…

    – Các nhà máy sản xuất nguyên vật liệu như giấy, xà phòng, công nghiệp dệt, công nghiệp hoá dầu, sản xuất các loại hoá chất …

    Ở nước thải công nghiệp, ngoài việc chứa hàm lượng cao các hợp chất hữu cơ như protein, các dạng carbohydrate, dầu mỡ (từ công nghệ chế biến thực phẩm), hemicellulose, liginin (công nghiệp sản xuất giấy), còn có các hợp chất hoá học khó phân huỷ như các hợp chất vòng thơm có N, các alkyl benzensufonate (công nghiệp sản xuất bột giặt), các loại dung môi, các kim loại nặng như chì, thuỷ ngân …

    Nói chung, so với nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp có các chỉ số BOD (nhu cầu oxygen sinh hoá) và COD (nhu cầu oxygen hoá học) cao hơn nhiều. Nước thải công nghiệp có độ ô nhiễm cao hơn so với nước thải sinh hoạt.

    Theo các quy phạm, luật về bảo vệ môi trường, mỗi nhà máy phải có công trình xử lý nước thải của mình trước khi thải ra hệ thống thoát nước của thành phố. Nhưng thực tế cho thấy hiện nay quy định nói trên ít được quan tâm thực hiện nghiêm túc.
    Nhiều nhà máy còn tuỳ tiện xả trực tiếp nước thải qua xử lý ra hệ thống cống thoát nước của thành phố.

    Thậm chí có nơi, có lúc còn xả trực tiếp ra đồng ruộng hay khu vực dân cư, sông, rạch gần đó. Kết quả là hiện nay ở các đô thị, tình trạng ô nhiễm sông, rạch, kênh, hồ trở nên phổ biến và nhiều nơi đang ở mức báo động.

    Khu hệ vi sinh vật trong nước thải:

    Trong nhiều trường hợp, mỗi loại nước thải có một khu hệ vi sinh vật đặc trưng. Nước thải sinh hoạt chứa phân, nước rửa, tắm giặt, thức ăn thừa … chứa rất nhiều vi khuẩn , trung bình từ vài triệu đến vài chục triệu cá thể trong 1ml. Trong đó chủ yếu là: – Vi khuẩn gây thối như Pseudomonas fluorescens, P. aeruginosa, Proteur vulgaris, Bac.cereur, Bac.subtilis, Enterobacter cloacae …

    – Đại diện của các nhóm khác như vi khuẩn phân giải đường, tinh bột, cellulose, urea…

    Các vi khuẩn thuộc nhóm Corliform, là vi sinh vật chỉ thị cho mức độ ô nhiễm phân trong nước ở mức độ cao, có thể dao động từ vài nghìn đến vài trăm nghìn cá thể trong 1ml nước thải.

    Trong nước thải giàu chất hữu cơ, các vi khuẩn có dạng hình ống giữ vai trò rất quan trọng, trước hết phải kẻ đến một đại diện là vi khuẩn Sphaerotilus natans, thường hay bị nhầm là “nấm nước thải”. Nó phủ lên mặt đáy của vùng nước cực bẩn một lớp khối tế bào dày đặc, bằng mắt thường cũng có thể quan sát được.

    Trên sông nó tạo thành các sợi và các búi. Khi bị đứt ra sẽ trôi nổi đầy trên mặt nước. Bọn này thường phát triển mạnh ở vùng nước có đủ oxygen. Ngoài việc xuất hiện ở nước thải sinh hoạt, Sphaerotilus natans thường được thấy có trong nước thải của các nhà máy cellulose và thực phẩm.

    Do sự phát triển mạnh của Sphaerotilus, oxygen bị tiêu thụ nhiều. Khi một lượng lớn Sphaerotilus natans tích tụ ở những vùng nước lặn sẽ xuất hiện tình trạng báo động về oxygen. Nó sẽ nhanh chónh làm cho oxygen trong nước biến mất hoàn toàn.

    Cuối cùng rồi cả khối Sphaerotilus natans cũng chết vì bị thối rửa, H2S sẽ xuất hiện cùng một lúc với một số chất khác.Trong môi trường lúc này khí H2S được tạo thành còn do quá trình phản ứng sulfate hoá của vi khuẩn phản sulfate như Desufovibri desufuricans.

    Bên cạnh vi khuẩn, trong nước thải giàu chất hữu cơ cũng có chứa nhiều loại nấm men. Có thể dao động từ vài ngàn đến vài chục ngàn tế bào nấm men trong 1ml. Phổ biến nhất là đại diện của Saccharomyces, kế là Candida, Cryptococcus, Rhodotorula.

    Trong nước thải sinh hoạt cũng chứa nhiều bào tử cà sợi nấm mốc. Nấm mốc tiêu biểu là Leptomitus lacteus, Fusarium aquaeducteum. Giống như Sphaerotilus natans, ở những nơi ô nhiễm mạnh (như nhiễm dịch kiềm fulite của công nghiệp chế biến gỗ), cácc giống nấm này phát triển rộ lên và tạo thành những đám nấm đáng sợ.

    Một số nước thải cũng phát hiện nhiều vi khuẩn phản nitrat hoá như Thiobacillus denitrificans, Micrococcus denitrificans; vi khuẩn sinh methane (CH4) …

    Trong nước thải chứa dầu, người ta cũng tìm thấy các vi khuẩn phân giải hydrocarbon như Pseudomonas, Nocardia …

    Trong nước thải có thể còn có một tập hợp khá đông đúc các loài tảo (Alage), gồm khoảng 15.000 loài. Chúng thuộc Tảo silic (Bacillariophyta), Tảo lục (Chlorophyta), Tảo giáp (Pyrrophyta)…

  • Hệ thống xử lý nước thải mì ăn liền được yêu chuộng trên thị trường

    Hiện nay, sản xuất mì ăn liền đang là ngành công nghiệp phát triển mạnh nhất mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Sự phát triển của ngành công nghiệp này càng phát triển kéo theo nhu cầu xử lý nước thải càng cao. Việc thiết kế, xây dựng hệ thống xử lý nước thải mì ăn liền với giá thành hợp lí, diện tích lắp đặt nhỏ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng nguồn thải đạt quy chuẩn của nhà nước luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Vì vậy, Công Ty Môi Trường SGC xin đưa ra một số quy trình xử lý nước thải mì ăn liền để quý doanh nghiệp tham khảo.

    Đặc trưng của nước thải sản xuất mì ăn liền.

    Nước thải nhà máy sản xuất mì ăn liền có chứa hàm lượng dầu mỡ cao, giàu chất hữu cơ, nhiều chất rắn lơ lửng…Hàm lượng chất hữu cơ quá nhiều gây suy giảm nồng độ oxi hòa tan, dầu mỡ sẽ gây cản trở sự trao đổi giữa khí và nước, chất rắn lơ lửng là mất mỹ quan, gây hiện tượng lắng đọng, tạo điều kiện cho vi sinh vật kỵ khí phát triển, gây mùi hôi thối….Các hiện tượng trên sẽ gây ảnh hưởng đến các loài thủy sinh, các loài động vật, con người và tác động xấu đến môi trường xung quanh.

    Thuyết minh sơ đồ dây chuyền lý nước thải mì ăn liền:

    Nước thải từ các nguồn phát sinh được nhà máy thu gom qua cho qua mương dẫn, tại mương dẫn có đặt song chắn rác thô nhằm để loại bỏ những rác lớn ( cành khô, lá cây, túi nilon…) để có thể giảm thiểu hư hỏng hệ thống bơm nước và ảnh hưởng đến các công trình đơn vị phía sau. Sau đó nước thải được đưa qua bể tách dầu mỡ . Tại đây bể hoạt động theo nguyên tắc tách bằng trọng lực, thời gian để lưu nước tại bể khoảng 0,5-1h.sau thời gian được lưu trong bể các thành phần mỡ nổi lên bề mặt bể và nó được vớt bằng tấm gạt mỡ nổi về bên của bể.

    Nước thải từ bể tách dầu mỡ được đưa qua bể điều hòa để điều hòa lưu lượng nước thải phù hợp với các công trình phía sau. Bể điều hòa được lắp đặt một hệ thống máy khuấy chìm nhằm xáo trộn hoàn toàn nước thải tránh trường hợp xảy ra quá trình kỵ khí trong bể.

    Tiếp theo đó nước thải mì ăn liền được tiếp tục được bơm qua cụm bể hóa lý cùng với hóa chất và được khuấy trộn bằng motor để thực hiện phản ứng keo tụ tạo bông. Sau quá trình phản ứng xảy ra , các bông cặn được hình thành và kết dính lại với nhau tạo thành những bông cặn có kích thước lớn hơn và được giữ ổn định nhờ năng lượng khuấy trộn.

    Sau khi qua cụm bể hóa lý nước thải được bơm lên bể tuyển nổi để tách phần dầu mỡ còn lại và xử lí nước thải mì ăn liền hoàn toàn lượng cặn lơ lửng khó lắng bằng tác dụng của dòng khí đi từ dưới bể. Bọt khí nhẹ sẽ lôi theo những chất rắn lơ lửng khó lắng từ mẫu nước thải trên bề mặt, tại bề mặt vể bọt khí có lẫn cặn được tách qua bể đựng bùn.

    Vì nước vẫn chưa đạt yêu cầu xả thải nên nước thải được tiếp tục qua bể trung gian rồi đưa qua bể kỵ khí UASB. Bùn hoạt tính lỵ khí hấp phụ các chất hữu cơ hòa tan trong nước thải, phân hủy và chuyển hóa chúng thành nước. Phần lớn bùn lắng xuống đáy bể và được lấy ra định kì,,, tại bể kỵ khí UASB quá trình phân hủy kỵ khí xảy ra làm giảm hàm lượng BOD, COD trong nước thải.

    Nước thải mì ăn liền từ bể UASB theo hệ thống máng rang cưa thu nước chảy qua bể trung gian để bơm lên bể SBR. Trong bể SBR thực hiện phân hủy các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học ở dạng hòa tan và dạng lơ lửng, quá trình nitrat hóa xảy ra trong giai đoạn sục khí, và làm giảm lượng nito trong nước thải với quá trình khuấy trộn thiếu khí để khử nitrat. Sau một thời gian sục khí , nước sẽ được lắng ngay trong bể, phần nước trong sẽ chảy qua bể khử trùng.

    Tại bể khử trùng nước sẽ được khử trùng bằng NaOCl trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Lượng bùn trong bể UASB Và bùn dư trong bể SBR sẽ được bơm vào bể chứa bùn. Bùn sau khi bơm đầy vào sẽ được để yên. Bùn tách làm 2 phần: phần đặc lắng xuống đáy và được đưa sang thiết bị tách bùn, còn phần lỏng ở trên được đưa lại hố thu. Bùn được đưa vào ngăn trộn của thiết bị tách bùn cùng với polymer và được ép. Phần nước sẽ chảy về hố thu.

    Cám ơn các bạn đã xem bài viết của chúng tôi.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    ,

  • Xử lý ô nhiễm nước bằng vi sinh vật (Phần 3)

    Thực chất của phương pháp này là nhờ hoạt động sống của vi sinh vật (sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số chất khoáng có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng) để biến đổi các hợp chất hữu cơ cao phân tử có trong nước thải thành các hợp chất đơn giản hơn.

    Trong nhiều biện pháp xử lý ô nhiễm, biện pháp sinh học được mọi người đặc biệt quan tâm sử dụng. So với các biện pháp vật lý, hoá học, biện pháp sinh học chiếm vai trò quan trọng về quy mô cũng như giá thành đâu tư, do chi phí năng lượng cho một đơn vị khối lượng chất khử là ít nhất. Đặc biệt xử lý bằng biện pháp sinh học sẽ không gây tái ô nhiễm môi trường – một nhược điểm mà biện pháp hoá học hay mắc phải.

    Biện pháp sinh học sử dụng một đặc điểm rất quý của vi sinh vật , đặc điểm đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu và các nhà sản xuất là khả năng đồng hoá được rất nhiều nguồn cơ chất khác nhau của vi sinh vật, từ tinh bột, cellulose, cả nguồn dầu mỏ và dẫn xuất của nó đến các hợp chất cao phân tử khác như protein, lipid, cùng các kim loại nặng như chì, thuỷ ngân …

    Thực chất của phương pháp này là nhờ hoạt động sống của vi sinh vật (sử dụng các hợp chất hữu cơ và một số chất khoáng có trong nước thải làm nguồn dinh dưỡng và năng lượng) để biến đổi các hợp chất hữu cơ cao phân tử có trong nước thải thành các hợp chất đơn giản hơn. Trong quá trình dinh dưỡng này vi sinh vật sẽ nhận được các chất làm vật liệu để xây dựng tế bào, sinh trưởng và sinh sản, nên sinh khối được tăng lên.

    Biện pháp sinh học để xử lý nước thải có thể làm sạch hoàn toàn các loại nước thải công nghiệp chứa các loại chất bẩn hoà tan hoặc phân tán nhỏ. Do vậy biện pháp này thường dùng sau khi loại bỏ các tạp chất phân tán thô ra khỏi chất thải.

    Đối với nước thải chứa các tạp chất vô cơ thì biện pháp này dùng để khử các muối sulfate, muối ammonium, muối nitrate, tức là những chất chưa bị oxy hoá hoàn toàn.

    Xử lý sinh học làm sạch nguồn nước cũng là một vấn đề không kém phần quan trọng so với làm sạch không khí, tuy nhiên nó có lịch sử lâu đời hơn nhiều trong việc áp dụng vào thực tiễn.

    Theo quan điểm của giải pháp kỹ thuật, nó cần vốn đầu tư ít hơn so với làm sạch không khí. Thiết bị làm sạch chỉ là các bể nước chảy, trong đó có sự tham gia của nấm và vi khuẩn (cả hiếu khí và kỵ khí) để phân rã các chất hữu cơ. Trong rất nhiều trường hợp dòng nước thải có chứa các kim loại nặng hoặc các chất hữu cơ khó phân hủy.

    Mục đích làm sạch nước thải là giải phóng các chất khoáng ở thể rắn hoặc lỏng và chất hữu cơ khỏi nước, trước khi nó chảy vào sông hoặc suối và tạo điều kiện để phân huỷ các chất hữu cơ bằng cách biến đổi chúng bằng enzyme thành các chất tan không độc với môi trường xung quanh.

    Hàm lượng các chất hữu cơ được phân rã bởi vi sinh vật được đánh giá theo chỉ số “tiêu thụ sinh học oxy” BOD. Đấy là số lượng oxy cần cho vi sinh vật để oxy-hoá vật liệu hữu cơ trong quá trình hô hấp. Thí dụ BOD5 có nghĩa là số lượng oxy (mg) cần cho vi sinh vật trong quá trình phân rã các chất hữu cơ thời gian 5 ngày. Chỉ số “tiêu thụ hóa học oxy” (COD) biểu thị số lượng oxy cần trong quá trình oxy hóa hóa học hoàn toàn các chất nói trên đến CO2 và H2O.

    Để làm sạch nước thải trong các hệ thống làm sạch người ta sử dụng các kỹ thuật xử lý khác nhau, tuy nhiên chúng đều hoạt động theo các giai đoạn sau:

    1) Loại bỏ các hạt dễ lắng trong bể lắng cát ở hồ nước thứ nhất.

    2) Oxy hóa bằng vi sinh vật các chất hữu cơ hòa tan với việc sử dụng bùn hoạt tính và biofilter.

    3) Ủ phần cặn được loại bỏ từ hồ nước thứ nhất và thứ hai ở điều kiện yếm khí trong phần hầm biogas, kết quả nhận được khí methane và cặn. Từ cặn này sau khi loại nước ta sẽ nhận được compost và sử dụng nó để đốt hoặc làm phân.

    Sau đó nước trong đã được làm sạch sẽ được đổ trực tiếp vào sông hoặc thông qua hồ chứa nước. Nước được sử lý chứa các sản phẩm của các quá trình khoáng hóa như các ion phosphate, nitrate và ammonia v.v… Khả năng gây nhiễm bẩn các hồ chứa nước có thể loại bỏ được, nếu nước thải được sử dụng để tưới ruộng hoặc làm phân bón cho đất trồng rừng. Nói chung các giải pháp kỹ thuật của vấn đề làm sạch nước thải có rất nhiều phương án.

    BẢNG 7.4 : Nồng độ giới hạn cho phép của các chất trong nước thải (CCP) đưa vào các công trình làm sạch bằng biện pháp sinh học.

    (*) : Ghi chú: CCP là nồng độgiới hạn cho phép của các chất (g/m3 nước thải)

    Ngoài ra, các điều kiện của môi trường như hàm lượng O2, pH, nhiệt độ của nước thải … cũng phải nằm trong một giới hạn nhất định để bảo đảm sự sinh trưởng, phát triển bình thường của các vi sinh vật tham gia vào quá trình xử lý.

  • Hệ thống xử lý nước thải phòng khám nha khoa tiên tiến trên thị trường

    Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay, đang gây ra nhiều thiếu hụt về nhiều thứ: như trường học, bệnh viện, …để đảm bảo các vấn đề chăm sóc sức khỏe các phòng khám nha khoa được đầu tư xây dựng trên nhiều Quận, huyện,… Ngoài việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân, phòng khám nha khoa cũng gây ô nhiễm môi trường do hằng ngày đều thải ra một lượng nước thải. Nếu không xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường thì nó gây ra một tác động lớn. Vì vậy rất cần thiết phải xử lý nước thải phòng khám nha khoa, đa khoa. Nguồn gốc phát sinh và tính chất của nước thải nha khoa. Hãy cùng công ty môi trường SGC tìm hiểu bài viết dưới đây để biết được hệ thống xử lý nước thải phòng khám nha khoa nhé.

     

     

    Các nguồn phát sinh nước thải phòng khám nha khoa

    Nước thải từ máy làm răng, phòng xét nghiệm: Nước thải này có chứa nhiều máu, hợp chất hữu cơ, hóa chất đồng thời có nhiều vi sinh vật gây bệnh, chất khử trùng, tẩy rửa,…

    Nước thải phát sinh từ hoạt động của nhân viên phòng khám và bệnh nhân: Nước thải này chứa nhiều hợp chất lơ lửng, dầu mỡ phát sinh trong quá trình ăn uống, hợp chất hữu cơ và vi sinh vật gây bệnh.

    Nước thải chưa qua xử lý tại các phòng khám nha khoa đa số đều bị nhiễm vi sinh và mang mầm bệnh nguy hiểm, do đó cần xử lý triệt để nước thải nha khoa trước khi thải ra môi trường để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

    Đặc điểm chung của nước thải phòng khám nha khoa

    – Nước thải phát sinh từ phòng làm răng, phòng xét nghiệm, phòng rửa dụng cụ thường chứa nhiều các hợp chất hữu cơ, các huyết tương, các loại hóa chất, các loại dư lượng thuốc, chất tẩy rửa và các vi khuẩn gây bệnh.

    – Nước thải phòng khám nha khoa phát sinh từ khu vệ sinh thường có nhiều chất rắn lơ lửng, các hợp chất hữu cơ và vi sinh vật.

    Giải pháp xử lý nước thải phòng khám nha khoa

    Trước những tác động không hề nhỏ từ nước thải nha khoa, tại nhiều bệnh viện, trung tâm, phòng khám nha khoa đã áp dụng công nghệ xử lý nước thải, loại bỏ các chất gây ô nhiễm trước khi đưa ra ngoài môi trường.

    Theo quy trình xử lý nước thải trên, nước thải phòng khám nha khoa được thu gom về bể điều hòa. Tại đây, sau khi nồng độ và lưu lượng chảy của nước thải được ổn định sẽ được đưa về bể xử lý hiếu khí 1. Với sự có mặt của các vi sinh hiếu khí, chất hữu cơ sẽ bị phân hủy, nước thải tiếp tục đi tới bể hiếu khí 2. Ở bể hiếu khí 2, màng lọc sinh học MBR thực hiện khử BOD, COD, chất rắn lơ lửng có trong nước, giảm tải lượng ô nhiễm trong nước thải xuống mức thấp nhất.

    Nước sạch từ bể hiếu khí 2 được truyền đến nguồn tiếp nhận. Trong quá trình di chuyển, ozone được bơm trực tiếp vào được ống nước, thực hiện loại bỏ hoàn toàn các vi khuẩn, vi trùng gây bệnh. Chất thải lắng đọng tại bể hiếu khí 2 được dẫn tới bể chứa bùn. Phần nước sau khi tách bùn có chất lượng thấp sẽ được đưa tuần hoàn đến bể thu gom để lặp lại quy trình xử lý. Lượng bùn còn lại sẽ được hút bỏ theo định kỳ. Sử dụng máy sục ozone công nghiệp vào quá trình xử lý nước thải phòng khám nha khoa là một giải pháp xử lý nước thải rất đáng quan tâm bởi hiệu quả mà nó mang lại.

    Cám ơn các bạn đã xem bài viết của chúng tôi.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    ,

  • Xử lý nước thải bằng công nghệ Aerotank

    Aerotank truyền thống là quy trình xử lý sinh học hiếu khí nhân tạo, ở đây các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học bởi vi sinh vật sau đó được vi sinh vật hiếu khí sử dụng như một chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển.

    Ngày nay do nhu cầu sử dụng nước để phục vụ cho công nghiệp, nông nghiệp và các ngành nghề khác nhau dẫn đến hàng loạt các vấn đề ô nhiễm nguồn nước ra tăng làm cho nguồn nước chúng ta ngày càng cạn kiệt yêu cầu mà xã hội đặt ra làm thế nào để giảm thiểu ô nhiễm. Trên thế giới có rất nhiều các phương pháp công nghệ tiên tiến khác nhau phục vụ cho quá trình xử lý như: BBR, AAO,UASB…trong đó có áp dụng một loại công nghệ truyền thống Aerotank.

    Aerotank truyền thống là quy trình xử lý sinh học hiếu khí nhân tạo, ở đây các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học bởi vi sinh vật sau đó được vi sinh vật hiếu khí sử dụng như một chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển. Qua đó thì sinh khối vi sinh ngày càng gia tăng và nồng độ chất ô nhiễm của nước thải giảm xuống. Không khí trong bể Aerotank được tăng cường bằng cách dùng máy sục khí bề mặt, máy thổi khí…để cung cấp không khí một cách liên tục.

    Hình 1: Cơ chế bể Aerotank

      Cơ chế Aerotank:

        + Trong bể bùn hoạt tính hiếu khí với sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng, quá trình phân hủy xảy ra khi nước thải tiếp xúc với bùn trong điều kiện sục khí liên tục. Việc sục khí nhằm cung cấp đủ lượng oxy một cách liên tục và duy trì bùn hoạt tính ở trạng thái lơ lửng.
    + Vi sinh vật phát triển bằng cách phân đôi. Thời gian cần để phân đôi tế bào thường gọi là thời gian sinh sản, có thể dao động từ dưới 20 phút đến hằng ngày.
    + Quá trình chuyển hóa cơ chất. Oxi hóa và tổng hợp tế bào:
    – Chất hữu cơ + O2 => CO2 + H2O + tế bào mới + sản phẩm trung gian

    Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hóa sinh học xảy ra thì các vi sinh vật sử dụng oxy hòa tan COD là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ. Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ oxy hòa tan trong nước DO. Tiếp theo diễn ra quá trình khử nito và nitrat hóa.

    Hợp chất hữu cơ chứa nito NH4+, sinh khối tế bào vi sinh vật, tế bào sống và tế bào chết theo bùn ra ngoài. Do quá trình thủy phân bởi enzyme của vi khuẩn và quá trình đồng hóa khử nito tạo ra các khí NO3, NO2, O2 chúng sẽ thoát vào không khí. Để  các quá trình trong Aerotank diễn ra thuận lợi thì phải tiến hành khuấy trộn hoàn toàn để nén sục oxi tinh khiết.

    Hình 2: Bể Aerotank

        Bản chất của phương pháp là phân hủy sinh học hiếu khí với cung cấp ôxy cưỡng bức và mật độ vi sinh vật được duy trì cao (2.000mg/L – 5.000mg/L) do vậy tải trọng phân hủy hữu cơ cao và cần ít mặt bằng cho hệ thống xử lý đồng thời cũng tiêu hao lượng lớn năng lượng. Nồng độ oxy hòa tan trong nước ra khỏi bể lắng đợt 2 không được nhỏ hơn 2 mg/l để đảm bảo duy trì độ ổn định cung cấp oxi cho suốt quá trình.

    Trong quá trình xử lý vi sinh vật có vai trò quan trọng chúng sẽ phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải và thu năng lượng để chuyển hóa thành tế bào mới, chỉ một phần chất hữu cơ bị oxy hóa hoàn toàn thành CO2, H2O, NO3-, SO42-…

    Để sử dụng tốt phương pháp này cần tuân thủ yêu cầu chung khi vận hành hệ thống bùn hoạt tính hiếu khí là nước thải được đưa vào hệ thống cần có hàm lượng SS không vượt quá 150 mg/l, hàm lượng sản phẩm dầu mỏ không quá 25mg/l, pH = 6,5 – 8,5, nhiệt độ 6oC< toC< 37oC.

  • Ô nhiễm điện từ trường đe dọa sức khỏe

    Ô nhiễm điện từ trường là những bức xạ vô hình phát sinh từ kỹ thuật vô tuyến điện và việc truyền tải điện năng.

    Đó là: Hệ thống lưới điện 50Hz ngoài trời và trong nhà, điện thoại không dây, điện thoại di động, các cột, các trạm thu phát điện thoại di động, các thiết bị báo động vô tuyến, lưới thông tin không dây, màn hình máy tính, ti vi, thậm chí cả đèn tiết kiệm điện…

    (xem thêm…)
  • Công nghệ xử lý nước thải xi mạ phổ biến nhất trên thị trường

    Nước thải của ngành xi mạ phát sinh không nhiều, nồng độ các chất hữu cơ thấp nhưng hàm lượng các kim loại nặng lại rất cao. Chúng là độc chất tiêu diệt các sinh vật phù du, gây bệnh cho cá và biến đổi các tính chất lý hoá của nước, tạo ra sự tích tụ sinh học đáng lo ngại theo chiều dài chuỗi thức ăn. 

    Nước thải từ các quá trình xi mạ kim loại, nếu không được xử lý, qua thời gian tích tụ và bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp sẽ tồn đọng trong cơ thể con người và gây các bệnh nghiêm trọng như viêm loét da, viêm đường hô hấp, eczima, ung thư,…

    Hãy cùng Công Ty Môi Trường SGC tìm hiểu bài viết dưới đây để khám phá công nghệ xử lý nước thải xi mạ trên thị trường nhé.

    Nguồn gốc phát sinh nước thải Xi mạ

    Nước thải xi mạ phát sinh nhiều từ quá trình làm sạch vật liệu cần mạ và vệ sinh sản phẩm sau mạ. Ngoài ra còn phát sinh từ các hoạt động khác như vệ sinh máy móc thiết bị. Bảo trì bảo dưỡng dây chuyền sản xuất,… Thông thường nước thải xi mạ được chia thành 3 dòng chính: Nước thải kiềm axit, nước thải crom và nước thải cyanua.

    – Nước thải kiềm Axit: Phát sinh từ quá trình làm sạch vật liệu bằng hóa chất, thành phần chứa nhiều axít, kiềm, dung môi, dầu mỡ, ghỉ sắt,…

    – Nước thải Crom: Chứa nhiều Cr6+ ngoài ra còn có Fe2+, Cu2+ , Ni2+, Zn2+, H2SO4, HCl, HNO3, tạp chất cơ học….Nồng độ tổng các tạp chất dao động trong vòng 30 – 300 mg/l, pH từ 7 đến 1.

    – Nước thải Cyanua: Nước thải cyanua ngoài CN- tự do còn có cyanua kẽm, cađimi, đồng… muối, mùn, chất bóng, chất hữu cơ. Nồng độ cyanua gồm cả dạng tự do và dạng liên kết, dao động từ 5 – 300mg/l, nồng độ tổng các kim loại muối của chúng pH dao động từ 1 đến 8 -10.

    Thành phần tính chất nước thải Xi mạ.

    Nước thải công nghiệp từ xưởng xi mạ có thành phần đa dạng về nồng độ và pH biến đổi rộng từ rất axit 2-3, đến rất kiềm 10-11.

    Đặc trưng chung của nước thải ngành mạ là chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và kim loại nặng. Tuỳ theo kim loại của lớp mạ mà nguồn ô nhiễm có thể là Cu, Zn, Cr, Ni,… và cũng tuỳ thuộc vào loại muối kim loại được sử dụng mà nước thải có chứa các độc tố như xianua, sunfat, amoni, crômat,…

    Các chất hữu cơ ít có trong nước thải xi mạ, phần chủ yếu là chất tạo bông, chất hoạt động bề mặt … nên BOD, COD thường thấp và không thuộc đối tượng xử lý. Đối tượng xử lý chính là các ion vô cơ mà đặc biệt là các muối kim loại nặng như Cr, Ni, Cu, Fe,…

    Quy trình xử lý nước thải xi mạ diễn ra như thế nào?

    Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng đang trở thành vấn đề bức thiết của các nhà máy, khu công nghiệp. Đặc trưng chung của nước thải xi mạ là chứa hàm lượng cao các muối vô cơ và các kim loại như kẽm, đồng, niken,…

    Bên cạnh đó, độ PH của nước thải xi mạ cũng thay đổi liên tục từ tính axit đến tính kiềm. Vì vậy, quy trình xử lý nước thải xi mạ cũng phải đảm bảo được sự thay đổi liên tục đó.

    Để quá trình xử lý được dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả, nước thải thường được tách riêng thành 3 dòng riêng biệt là dung dịch thải đậm đặc từ các bể nhúng, bể ngâm, nước rửa thiết bị có hàm lượng chất bẩn trung bình và nước rửa loãng.

    Tuy nhiên, thành phần và nồng độ các chất độc hại có chứa trong chúng là rất lớn. Không những vậy, nếu quy trình xử lý cũng như công nghệ không đảm bảo thì lại càng nguy hiểm hơn. Một quá trình xử lý nước thải xi mạ đạt chuẩn phải trải qua rất nhiều công đoạn, quy trình khác nhau.

    Đầu tiên, nước thải sẽ chảy qua các song chắn rác để loại bỏ các cặn, rác lớn tồn tại trong nước thải. Tiếp đó, Nguồn nước thải sẽ đi qua bể điều hòa, bể phản ứng và keo tụ.

    Tại đây, chúng sẽ xảy ra các phản ứng hóa học với các hóa chất để làm lắng đọng các kim loại nặng hoặc biến đổi chúng thành chất ít độc hơn. Tiếp theo quy trình xử lý nước thải xi mạ, nước thải tiếp tục đưa vào bể lắng để loại bỏ và xử lý bùn. Sau đó, nước thải được đưa đến bể lọc áp lực và đổ ra nguồn tiếp nhận.

    Cám ơn các bạn đã xem bài viết của chúng tôi.

  • Xử lý nước thải bằng công nghệ MBBR

    Công nghệ xử lý nước thải bằng giá thể di động ( MBBR).  

    Cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa là vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường. Quá trình phát triển của công nghiệp kéo theo các vấn đề ô nhiễm môi trường diễn ra nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước đang nguy cấp.

    Như ta đã biết nước là nguồn tài nguyên vô giá của nhân loại thiếu nước con người như mất đi sự sống tuy nhiên ngày nay nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng đòi hỏi cần có biện pháp khắc phục.

    Trên thế giới có rất nhiều công nghệ trong quá trình xử lý nước thải và trong đó có công nghệ MBBR đang được áp dụng vào nhiều dòng thải. MBBR (Moving Bed Biofilm Reactor) là quá trình xử lý nhân tạo trong đó sử dụng các vật làm giá thể cho vi sinh dính bám vào để sinh trưởng và phát triển.

    Hình 1: Giá thể MBBR

    Bể MBBR là quá trình xử lý bằng lớp màng biofilm với sinh khối phát triển trên giá thể mà những giá thể
    này lại di chuyển tự do trong bể phản ứng và được giữ bên trong bể phản ứng. Đồng thời chúng không cần quá trình tuần hoàn bùn giống như các phương pháp xử lý bằng màng biofilm khác, vì vậy nó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý bằng phương pháp bùn hoạt tính trong bể, bởi vì sinh khối ngày càng được tạo ra trong quá trình xử lý.

    Phân loại bể MBBR:

    + Bể hiếu khí là bể sử dụng các vi sinh vật hiếu khí để phân hủy các chất hữu cơ đồng thời trong suốt quá trình xử lý cần sục khí liên tục để cung cấp oxi cho quá trình xử lý.
    + Bể kỵ khí là sử dụng vsv yếm khí tức môi trường không có oxy. Mỗi bể có những tác dụng và ưu điểm khác nhau.

    Bản chất của bể MBBR:

    + Công nghệ màng vi sinh chuyển động tạo được sự kết hợp giữa hai quá trình xử lý hiếu khí và kỵ khí. Công nghệ này thực sự dựa trên sự phối hợp giữa kỹ thuật huyền phù (vi sinh vật phân bố đều trong môi trường nước) và màng vi sinh vật (vi sinh vật tạo thành lớp màng trên chất mang).
    + Để tăng cường quá trình chuyển khối (cung cấp chất ô nhiễm cho vi sinh vật xử lý, tiết kiệm dung tích bể xử lý), hệ thống xử lý được thiết kế với kỹ thuật chuyển động chất mang vi sinh trong nước nhờ khí cấp vào từ dưới đáy bể.
    + Kỹ thuật màng vi sinh tầng chuyển động sử dụng vật liệu mang có kích thước nhỏ, vật liệu này chuyển động hỗn loạn trong nước. Nhờ có diện tích bề mặt lớn vi sinh vật có đủ điều kiện để bám dính và phát triển trên đó với mật độ cao và thúc đẩy tốc độ quá trình oxy hóa BOD, amoni.

    Hình 2: Minh họa bể xử lý MBBR

     Ưu điểm công nghệ MBBR:

    – Diện tích công trình nhỏ.

    – Hiệu quả xử lý BOD cao, có thể đạt mức A QCVN14:2008/BTNMT.

    – Có thể cải tiến thành công nghệ AAO để xử lý triệt để Nito, Phopho và các hợp chất khó phân hủy khác.

    – Quá trình vận hành đơn giản.

    – Chi phí vận hành thấp.

    – Chi phí bảo dưỡng thấp.

    – Hàm lượng bùn tạo ra thấp.

    – Không phát sinh mùi trong quá trình vận hành.

    Điều kiện quan trọng nhất của quá trình xử lý này là mật độ giá thể trong bể, để giá thể có thể chuyển động lơ lửng ở trong bể thì mật độ giá thể chiếm tứ 25 – 50% thể tích bể và tối đa trong bể MBBR phải nhỏ hơn 67%. Trong mỗi quá trình xử lý bằng màng sinh học thì sự khuyếch tán của chất dinh dưỡng ở trong và ngoài lớp màng là nhân tố đóng vai trò quan trọng trong quá trình xử lý, vì vậy chiều dày hiệu quả của lớp màngcũng là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý.

  • Hệ thống xử lý nước thải tòa nhà chung cư cao ốc tiên tiến

    Nước thải sinh hoạt tại tòa nhà bao gồm nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt như tắm rửa, ăn uống, vệ sinh, giặt giũ… Đặc tính của nước thải tại tòa nhà này là có màu đen khi chưa phân hủy, chứa nhiều chất rắn lơ lửng, các loại thức ăn thừa, tạp chất từ dầu mỡ, rác thải…

    Do đặc điểm về thành phần cấu tạo nên nước thải loại này thường bốc mùi hôi thối do quá trình phân hủy thối rữa của các tạp chất hữu cơ. Các chất vô cơ như cặn bẩn, đất cát tuy không gây ảnh hưởng nhiều nhưng lại gây ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước thải tòa nhà chung cư của hệ thống.

    Bên cạnh đó, các vi sinh vật gây hại cho sức khỏe con người, và môi trường có rất nhiều trong nước thải loại này, gây nguy cơ lây lan các bệnh dịch cho cộng đồng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và ô nhiễm môi trường.

    Hãy cùng Công Ty Môi Trường SGC tìm hiểu bài viết dưới đây để biết được hệ thống xử lý nước thải tòa nhà chung cư tiên tiến trên thị trường nhé.

    Nguồn gốc phát sinh nước thải tòa nhà chung cư

    Nước thải từ khu chung cư có thành phần tính chất giống với nước thải sinh hoạt: nước xả ra sau khi sử dụng cho mục đích sinh hoạt cộng đồng, từ các phòng, nhà trong khu chung cư, cao ốc: tắm, giặt giũ, tẩy rửa, vệ sinh. Nước thải sinh hoạt từ các căn hộ, văn phòng cho thuê…

    Chúng là nước thải có nguồn gốc hữu cơ, dễ phân hủy, giàu Nitơ, phospho, hàm lượng COD, BOD, TSS, Coliform cao… Do đó cần có biện pháp xử lý trước khi thải ra ngoài môi trường.

    Đặc trưng nước thải tòa nhà chung cư cao ốc

    • Nước thải nhiễm bẩn chất thải bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh.
    • Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt: cặn bã từ nhà bếp, vệ sinh sàn nhà,…
    • Đặc tính chung của nước thải này là ô nhiễm bởi cặn bã hữu cơ (SS), chất hữu cơ hòa tan, Nito, Photpho, các vi sinh vật gây bệnh,…
    • Chất hữu cơ chứa trong nước thải chiếm 50-60% tổng các chất bao gồm các chất hữu cơ thực vật: cặn bã thực vật, rau quả, giấy,…và các chất hữu có động vật,…
    • Các chất vô cơ chiếm khoảng 40% chủ yếu gồm: cát, đất, các chất axit, bazo vô cơ, dầu khoáng,…

    Vấn đề xử lý nước thải tòa nhà chung cư, cao ốc hiện nay vẫn chưa được quan tâm nhiều, chủ yếu mang tính chất đối phó. Nên hầu hết hệ thống xử lý nước thải các tòa nhà nếu có đều cũ kỹ và lạc hậu. Vậy vấn đề đặt ra là làm sao để có một hệ thống xử lý nước thải cho khu chung cư, cao ốc đạt hiệu quả nhất mà chi phí đầu tư được tiết kiệm tối đa. Nhất là được đối với các tòa nhà chung cư, cao ốc nằm ở trung tâm thành phố với giá đất đắt đỏ thì việc xây dựng một hệ thống xử lý nước thải không ảnh hưởng đến mỹ quan và gây ảnh hưởng đến môi trường là điều rất quan trọng.

    Thuyết minh công nghệ xử lý nước thải tòa nhà chung cư

    Nước thải sinh hoạt từ trường học, sau khi qua các công trình xử lý sơ bộ như bể tự hoại để tách cặn lớn ra khỏi nước thải, sẽ theo hệ thống cống riêng chảy trọng lực về hố thu gom của hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung. Từ đây nước thải sẽ được bơm vào bể điều hòa.

    Ngoài ra nước thải từ bồn tắm, bồn rửa, khu văn phòng được đưa trực tiếp vào bể điều hòa. Riêng nước thải nhà ăn được đưa qua đường ống dẫn riêng đến bể tách mỡ. Tại bể tách mỡ, các giọt dầu nhẹ hơn nước nổi lên trên mặt nước, phần nước trong được bơm vào bể điều hòa. Phần dầu nổi trên mặt nước được vớt định kỳ đem đổ bỏ nơi quy định.

    Tại bể điều hòa, nước thải được điều hoà lưu lượng và nồng độ các thành phần trong nước thải. Nước thải sau khi qua bể điều hòa sẽ tự chảy vào bể Anoxic. Bể Anoxic xử lý tổng hợp: khử BOD, nitrate hóa, khử NH4+ và khử NO3- thành N2, khử Phospho.

    Nước thải tòa nhà chung cư sau khi qua bể Anoxic sẽ được bơm với lưu lượng cố định vào bể sinh học hiếu khí với giá thể tiếp xúc dạng tấm, tại đây sẽ xảy ra quá trình xử lý các chất bẩn hữu cơ, N, P trong nước thải nhờ các vi sinh bám dính trên bề mặt giá thể. Nhờ oxy cung cấp từ máy thổi khí, các vi sinh vật phát triển trên bề mặt giá thể tạo thành màng vi sinh. Màng vi sinh với mật độ vi sinh cao sẽ sử dụng chất hữu cơ hòa tan trong nước như nguồn năng lượng để sống và phát triển.

    Cám ơn các bạn đã xem bài viết của chúng tôi.

  • Giới thiệu cam kết bảo vệ môi trường

    Cam kết bảo vệ môi trường là hồ sơ pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, với cộng đồng.

    Cam kết bảo vệ môi trường là hồ sơ pháp lý ràng buộc trách nhiệm giữa doanh nghiệp với cộng đồng và cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Các nguồn tác động ảnh hưởng đến môi trường của dự án được đánh giá chi tiết thông qua việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường.

    Lập cam kết bảo vệ môi trường là để yêu cầu các cơ sở sản xuất kinh doanh phải thực hiện những gì mình cam kết trên Bản cam kết bảo vệ môi trường, nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người trong các giai đoạn thiết kê, thực hiện và vận hành của dự án.

    3. Đối tượng thực hiện lập cam kết bảo vệ môi trường

    Đối tượng phải lập, đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 29 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP. Tức là:
    -Các dự án đầu tư có tính chất, quy mô, công suất không thuộc danh mục hoặc dưới mức quy định của danh mục tại Phụ lục II Nghị định số 29/2011/NĐ-CP.
    -Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư nhưng có phát sinh chất thải sản xuất.
    Ngoài ra các Dự án, đề xuất hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã được đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường nhưng chưa đi vào vận hành phải lập và đăng ký lại bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại Khoản 4 điều 35 Nghị định số 29/2011/NĐ-CP.

    4. Thời điểm lập cam kết bảo vệ môi trường

    Lập CKBVMT phải được đăng ký trước khi thực hiện đầu tư sản xuất kinh doanh hoặc trước khi đề nghị cơ quan thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động quy định tại điều 31 Nghị định 29/2011/NĐ-CP.

  • Ngộ Độc Khí CO

    Ngộ độc Cacbon monoxide

    Ngộ độc Carbon monoxide! Các triệu chứng có thể bao gồm: Chậm chạp, nhức đầu, yếu đuối, chóng mặt, buồn nôn, ói mửa, đau ngực, lẫn lộn, khó chịu, mất ý thức…Đặc biệt nguy hiểm nếu đang ngủ hoặc say rượu. Có thể gây tử vong trước khi nhận ra có vấn đề.

    Định nghĩa

    Carbon monoxide là một khí không màu không mùi và không vị. Quá nhiều carbon monoxide trong không khí hít thở rất có thể làm giảm khả năng hấp thụ oxy, dẫn đến mô thiệt hại nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong. Carbon monoxide là một nguyên nhân ngộ độc tử vong hàng đầu từ các chất độc không chủ ý.

    Carbon monoxide là sản phẩm của các thiết bị và các thiết bị khác sản xuất khói đốt cháy, chẳng hạn như những người đốt khí hoặc các sản phẩm xăng dầu khác, gỗ và các loại nhiên liệu khác (than). Nguy cơ xảy ra khi carbon monoxide tích tụ quá nhiều trong một không gian kín, thông khí kém. Thông khí là biện pháp phòng ngừa đơn giản có thể cứu sống.

    Mặc dù các dấu hiệu của ngộ độc khí carbon monoxide có thể tinh tế, nhưng nó là một đe dọa tính mạng cần cấp cứu y tế, chăm sóc ngay lập tức cho bất cứ ai có thể đã bị nhiễm độc khí carbon monoxide .

    I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

    Các triệu chứng của ngộ độc khí carbon monoxide có thể bao gồm:

    – Chậm chạp, nhức đầu là triệu chứng phổ biến nhất.

    – Yếu đuối.

    – Chóng mặt.

    – Buồn nôn.

    – Ói mửa.

    – Đau ngực.

    – Lẫn lộn.

    – Khó chịu.

    – Mất ý thức.

    Ngộ độc carbon monoxide có thể đặc biệt nguy hiểm cho những người đang ngủ hay say rượu. Có thể gây tử vong trước khi bất cứ ai nhận ra có một vấn đề.

    Nếu nghi ngờ đã được tiếp xúc với carbon monoxide, vào nơi không khí trong lành ngay lập tức và tìm kiếm sự chăm sóc y tế khẩn cấp. Nếu có thể, mở cửa sổ và cửa ra vào trên đường ra khỏi nhà.

    II. NGUYÊN NHÂN GÂY NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

    Carbon monoxide là ngộ độc do hít phải khói đốt. Khi có quá nhiều khí carbon monoxide trong không khí, cơ thể thay thế ôxy trong hemoglobin của các tế bào máu đỏ. Điều mà sẽ giúp duy trì cuộc sống (ôxy) mô và các cơ quan.

    Các thiết bị gia dụng nhiên liệu bằng gỗ hoặc sản xuất khí carbon monoxide, bao gồm:

    – Nhiên liệu đốt nóng không gian.

    – Lo nấu thủy tinh, luyện kim..

    – Than nướng.

    – Phạm vi nấu ăn.

    – Máy tắm nước nóng.

    – Lò sưởi.

    – Máy phát điện.

    – Gỗ cháy.

    – Động cơ ô tô.

    Thông thường số lượng khí carbon monoxide được sản xuất bởi các nguồn không đáng quan tâm. Nhưng nếu thiết bị hoạt động trong không lưu không tốt hoặc nếu đang sử dụng trong một không gian đóng hoặc đóng một phần, chẳng hạn như sử dụng trong nhà một lò than hoặc chạy xe của trong một nhà để xe đóng cửa, những khí carbon monoxide có thể xây dựng đến mức nguy hiểm. Ngay cả khi bơi sau thuyền hoặc đi ở sau của một chiếc xe tải nhỏ có thể nguy hiểm.

    Hít phải khói thuốc trong một vụ hỏa hoạn cũng có thể gây ngộ độc khí carbon monoxide.

    III. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

    Tiếp xúc với carbon monoxide từ khói đốt cháy là nguy hiểm cho bất cứ ai. Một số người dễ bị tác động bởi khí carbon monoxide, bao gồm:

    – Phụ nữ có thai.

    – Trẻ sơ sinh.

    – Người cao tuổi.

    – Những người hút thuốc lá.

    – Những người có bệnh tim mãn tính, thiếu máu hoặc các vấn đề về đường hô hấp.

    IV. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

    Tùy thuộc vào mức độ và chiều dài tiếp xúc , ngộ độc carbon monoxide có thể gây ra:

    Tổn thương não vĩnh viễn.
    Thiệt hại cho tim, có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng.
    Các xét nghiệm và chẩn đoán

    Nếu bác sĩ nghi ngờ nhiễm độc khí carbon monoxide, một mẫu máu sẽ được thực hiện để đo lượng khí carbon monoxide trong máu.

    V. ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

    Carbon monoxide ngộ độc là một cấp cứu y tế. Điều trị nhằm mục đích thay thế khí carbon monoxide trong máu với ôxy càng nhanh càng tốt. Trong bệnh viện, có thể hít thở oxy nguyên chất thông qua một mặt nạ được đặt trên mũi và miệng. Điều này giúp oxy đến các cơ quan và các mô. Nếu không thể thở một máy hô hấp có thể trợ giúp.

    Trong một số trường hợp, điều trị oxy tăng áp được khuyến khích. Với trị liệu này, đặt trong một khoang điều áp toàn thân. Bên trong khoang, áp suất không khí nhiều hơn hai lần như áp suất khí quyển bình thường. Điều này tạo tốc độ thay thế khí carbon monoxide với ôxy trong máu.

    VI. PHÒNG CHỐNG NGỘ ĐỘC MONOXIDE:

    Biện pháp phòng ngừa đơn giản có thể giúp ngăn ngừa ngộ độc khí carbon monoxide. Hãy xem xét những điều sau đây:

    Đầu tư vào thiết bị dò khí carbon monoxide. Cài đặt carbon monoxide detector trong nhà. Cài đặt thêm các máy dò bên ngoài phòng ngủ cá nhân. Kiểm tra pin máy dò khói ít nhất hai lần một năm.

    Mở cửa nhà để xe trước khi bắt đầu khởi động xe. Không bao giờ chạy xe trong nhà để xe đóng cửa. Hủy bỏ các mảnh vụn từ ống bô trước khi sử dụng xe hơi.

    Sử dụng các thiết bị theo khuyến cáo. Không bao giờ dùng bếp ga hoặc lò nướng để sưởi ấm nhà. Sử dụng máy sưởi đốt nhiên liệu chỉ khi một người nào đó tỉnh táo để theo dõi chúng và cửa ra vào hoặc cửa sổ đang mở để cung cấp không khí trong lành. Không chạy máy phát điện trong một không gian kín, như tầng hầm hoặc nhà để xe.

    Giữ các thiết bị gas và lò sưởi trong tình trạng tốt. Ống khói lò sưởi sạch và kiểm tra lò mỗi năm. Hãy hỏi công ty tiện ích kiểm tra hàng năm cho tất cả các thiết bị khí đốt, bao gồm cả lò sưởi.

    Nếu ngộ độc carbon monoxide đã xảy ra trong nhà, quan trọng là tìm và sửa chữa nguồn gốc của khí carbon monoxide trước khi quay trở lại.